Gia nhập WTO - qua lăng kính ngoại thương

Cập nhật ngày: 06/01/2012

Thành công bước đầu về hoạt động xuất, nhập khẩu 5 năm qua đã cho ta cái nhìn lạc quan qua 5 năm gia nhập tổ chức Tổ chức thương mại thế giới ( WTO)
Hành trình
 

Sau hơn 11 năm kiên trì, ngày 7/11/2006, Việt Nam được kết nạp làthành viện thứ 150 của WTO. Hành trình chuân chuyên nhưng đầy ấn tượng với nhiều cung bậc “vũ môn”phải vượt qua.

 

Sẽ làkhông đầy đủ nếu không kể tới những hoạt động gia nhập các Tổ chức kinh tế khu vực vàquốc tế khác, bởi đólàgỡ từng mối, tiến tới mở toang cánh cửa gia nhập WTO. Tháng 7/1995, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Hiệp hội các nước Đông Nam Á(ASEAN). Cũng tháng 7 /1009 Việt Nam kýHiệp định hợp tác với Cộng đồng Châu Âu (EC). Ngày 15/12/1995 Việt Nam chính thức tham gia khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA). Tháng 3/1996, Việt Nam cùng với 9 nền kinh tế Châu Ávà15 nền kinh tế thuộc Liên minh Châu Âu, lànhững sáng lập viên Diễn đàn kinh tế Á- Âu (ASEM). Ngày 18/11/1998, Việt Nam trở thành thành viên Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á- Thái Bình Dương (APEC). Tháng 7/2000 Việt Nam kýHiệp định thương mại song phương với Hoa Kỳ (BTA), cóhiệu lực từ tháng 12/2001. Đây lànấc áp chót để bước vào không gian WTO

 

 

Lợi ích bước đầu.

 

5 năm qua, dùtình hình biến động phức tạp khólường, đặc biệt làhứng chịu cuộc khủng hoảng tài chính vàsuy thoái kinh tế toàn cầu, kinh tế vĩ môViệt Nam cơ bản ổn định, duy trìtốc độ tăng trưởng, tiềm lực vàquy môkinh tế tăng lên. Việt Nam đãra khỏi tình trạng nước kém phát triển.

 

 

Pháđược thế bao vây cấm vận, tạo được sự bình đẳng trong thương mại quốc tế. Hoạt động kinh tế đối ngoại, nòng cốt làngoại thương tiến bộ rõrệt. Thị trường thông suốt với 149 nền kinh tế thành viên. Kim ngạch xuất khẩu (XK) liên tục tăng trưởng. Với tổng kim ngạch XK năm 2010 đạt 71,6 tỷ USD, thìtốc độ tăng trưởng XK bình quân cả giai đoạn 2006 - 2010 đạt 17,2%, cao hơn 1,2% so với Nghị quyết của Quốc hội về mức tăng trưởng XK của giai đoạn này. Kim ngạch XK bình quân theo đầu người năm 2010 đạt 914,4 U SD/ người trong khi năm 2006 là559,2 USD / người. 10 tháng 2011 XK đạt 78 tỷ USD, tăng 34,5% so với năm 2010. Theo đàdiễn biến này, cóthể khẳng định năm 2011 XK sẽ vượt năm 2010 rất ngoạn mục. Đóng góp của XK vào GDP ngày càng nhiều, càng rõ.

 

 

Cơ cấu XK đãchuyển dịch tích cực, tăng dần tỷ trọng nhóm hàng chế biến, chế tạo, cóhàm lượng công nghệ, chất xám cao, giảm dần hàng thô.

 

 

Đến năm 2010 đãcó19 thị trường Việt Nam XK đạt từ 1 tỷ USD trở lên, trong đóđầu bảng làHoa Kỳ, đạt 14, 2 tỷ USD, tiếp đến làNhật Bản vàTrung Quốc.... Cũng trong số 19 thị trường nói trên có6 tên tuổi thuộc khu vực ASEAN, lần lượt theo kim ngạch từ lớn đến nhỏ làSingapo, Malayxia, Philippin, Campuchia, Indonexia, Thái Lan. Trên tổng thể cán cân thương mại của Việt Nam lànhập siêu, nhưng hiện có6 thị trường ta xuất siêu làHoa Kỳ, Thuỵ Sỹ, Campuchia, Anh, HàLan, Philippin, như một tin báo tiệp rằng sẽ cân bằng xuất - nhập.

 

 

Những dịch vụ bổ trợ xuất, nhập khẩu (XNK) như tài chính, tiền tệ, bảo hiểm, giao nhận, vân tải, quácảnh, chuyển khẩu, tạm nhập tái xuất...phát triển cả về chiều rộng vàbề sâu, nhiều loại hình mới, số đơn vị tham gia tăng dần, doanh thu càng lớn.

 

 

 

Nhập khẩu (NK) tăng đều đặn qua các năm, song tỷ lệ nhập siêu đãgiảm, nằm trong tầm kiểm soát. Tỷ lệ nhập siêu năm 2007 là29,2%, xuống 28,6 % năm 2008, năm 2010 xuống còn 17,3%, 10 tháng 2011 chỉ còn 10,4%, nhiều khả năng cả năm 2011 sẽ thấp hơn mức Quốc hội cho phép (16%)

 

 

Điều quan trọng làtrong cơ cấu NK, tỷ trọng hàng tiêu dùng chỉ chiếm từ 3-5%. Máy móc, nguyên nhiên vật liệu vẫn chiếm ưu thế tuyệt đối. Đãlàm tốt hơn việc quản lýnhững mặt hàng cần kiểm soát, cần hạn chế NK. Việc mở rộng thị trường, các nhàNK Việt Nam cónhiều sự lựa chọn nhập được  những hàng hợp lý, hiệu quả nhất.

 

 

Đồng hành với hoạt động XNK còn cóviệc mở nhiều Khu Kinh tế cửa khẩu. Việc ra đời vàphát triển hình thái này vừa thêm cổng để hàng hoávào ra thêm gần, vừa thể hiện thiện chícủa Việt Nam luôn rộng cửa đón bạn bèbốn phương để hợp tác đầu tư, phát triển du lịch.

 

 

Hội nhập về xúc tiến thương mại (XTTM ) với cộng đồng quốc tế, ngày càng nhận được sự hợp tác, hỗ trợ của các đồng nghiệp từ những nền kinh tế cókinh nghiệm, tiềm lực. Công tác XTTM ngày càng chuyên nghiệp vàhiệu quả. Đồng thời tăng cơ hội quảng báhình ảnh vàvị thế hàng hoáViệt Nam mạnh bước vào thương trường quốc tế.

 

 

Tồn tại

 

Tuy vậy, lợi ích của XNK do việc gia nhập WTO chưa được như mong muốn. Cơ thể ngoại thương nước ta vẫn còn yếu kém, chưa thể hấp thụ, chuyển hoánhững cơ may thành hiện thực, đào thải những vẩn đục do hội nhập mang vào. Thể hiện tập trung ở các điểm:

 

 

Một là, Năng lực cạnh tranh của hàng hoánước ta ở cả 3 cấp quốc gia, ngành hàng, doanh nghiệp còn kém, thể hiện làgiáthành còn cao, phẩm cấp thấp so với chuẩn quốc tế, chất lượng phục vụ thiếu chuyên nghiệp.

 

 

Hailà, Chưa chủ động phát huy mọi nguồn lực bằng chính sách ổn định, hệ thống pháp lýđồng bộ, khuyến khích các loại hình doanh nghiệp sản xuất vàkinh doanh.

 

 

Ba là, Đội ngũ cán bộ quản lývĩ mô, quản trị sản xuất, kinh doanh vàthực hành trong nhiệu lĩnh vực, nhiều địa phương còn bất cập so với yêu cầu trình độ khu vực vàquốc tế.

 

 

Bốn là, Khả năng nhận biết các nguy cơ gặp phải các rào cản vànhững biện pháp để hoágiải các rào cản còn lúng túng. Mở cửa thị trường trong nước nhưng chưa thiết lập hàng rào kỹ thuật ngăn chặn thâm nhập những tiêu cực từ bên ngoài.

 

 

Định hướng

 

1. Thực hiện chuyển dịch tái cấu trúc sản xuất, đầu tư hướng mạnh vào XK;áp dụng đồng bộ các biện pháp khuyến khích đẩy XK. Thiết lập hệ thống cảnh báo sớm về các rào cản, tăng năng lực giả toả các rào cản.

 

2 . Đẩy mạnh XT XK tới tất cả các thị trường đãđược mở để tận dụng triệt để các lợi ích của các hiệp định thương mại tự do song phương, đa phương vàkhu vực. Củng cố thế đứng tại các thị trường trọng điểm, bằng những mặt hàng chủ lực, tiềm năng.

 

2 . Xây dựng hàng rào kỹ thuật để quản lýNK chặt chẽ, không trái với định ước quốc tế. Đẩy mạnh sản xuất trong nước thay thế hàng NK.

 

3 . Cập nhật thông tin, nâng cao chất lượng phân tích, trách nhiệm dự báo để đối phókịp thời diễn biến trước mắt, đặt kế sách lâu dài

 

4. Tiếp tục cải cách hành chính, nâng cao tính hiệu quả của hệ thống chính sách, bộ máy. Thực hiện đầy đủ các cam kết với WTO. Hoàn thiện các yếu tố kinh tế thị trường, các loại hình thị trường, để được công nhận cónền kinh tế thị trường trước hạn 31/12/2018.

 

4.. Đào tạo đội ngũ quản lý, chuyên gia tư vấn, chuyên viên kinh doanh thành thạo theo chuẩn khu vực vàquốc tế.

(NguồnVIETRADE)

 
tm gia sư dạy km