Mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội năm 2012 của tỉnh Ninh Thuận

Cập nhật ngày: 27/06/2012

Triển khai thực hiện nhiệm vụ năm 2012 dự báo tình hình kinh tế thế giới tiếp tục được phục hồi và có tăng trưởng so với năm 2011, nhưng còn chậm và tiềm ẩn nhiều yếu tố bất ổn; một số quốc gia đang phải đối mặt với nhiều khó khăn về tình trạng thất nghiệp, nợ công, thâm hụt ngân sách bất ổn tài chính ở các nền kinh tế lớn và nguy cơ lạm phát gia tăng ở các nền kinh tế mới nổi.

Tình hình trong nước: Các cân đối kinh tế vĩ mô từng bước được cải thiện và dần đi vào ổn định, các chính sách về kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô tiếp tục phát huy hiệu quả, môi tường đầu tư kinh doanh tiếp tục được cải thiện, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế có được nâng lên, sẽ là điều kiện thuận lợi để thu hút các nguồn lực cho đầu tư phát triển. Tuy nhiên, theo dự báo thì còn nhiều khó khăn, nhất là áp lực về lạm phát cao vẫn còn tồn tại, các chính sách tài chính - tiền tệ, tăng trưởng tín dụng cũng chưa thật sự được giải quyết; khả năng thu hút ODA sẽ khó khăn hơn, khi nước ta đã thoát khỏi nước có thu nhập thấp.

          Tình hình trong tỉnh: Việc khởi động triển khai dự án nhà máy điện hạt nhân tại tỉnh sẽ tạo động lực thúc đẩy nguồn lực đầu tư mới, cùng với tác động tích cực từ các chủ trương phát triển kinh tế lớn của tỉnh trong những năm gần đây đã góp phần tạo dựng hình ảnh, thương hiệu mới của tỉnh, tăng sức hấp dẫn trong thu hút đầu tư, nhất là tác động lan tỏa sau Hội nghị công bố quy hoạch và xúc tiến đầu tư vào tỉnh năm 2011 và các sự kiện văn hóa, thể thao quan trọng, mang tầm quốc tế tổ chức tại tỉnh trong năm 2012 sẽ góp phần tạo động lực thúc đẩy phát triển nhanh hơn kinh tế - xã hội của tỉnh trong năm 2012 và những năm tiếp theo. Bên cạnh đó còn nhiều khó khăn, nhất là những khó khăn vốn có của nền kinh tế, lãi suất ngân hàng và giá cả một số mặt hàng thiết yếu còn ở mức cao, các cân đối lớn về vốn đầu tư, thu chi ngân sách và nguồn nhân lực có chất lượng trong bối cảnh tiếp tục kiềm chế lạm phát, thắt chặt đầu tư công là những khó khăn thách thức đối với tỉnh. 

I. MỤC TIÊU, CHỈ TIÊU CHỦ YẾU CỦA KẾ HOẠCH 2012:

1. Mục tiêu tổng quát: Tiếp tục thực hiện mục tiêu ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội. Tập trung huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư phát triển kinh tế-xã hội, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn năm 2011, chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế, nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế; đẩy mạnh phát triển lĩnh vực văn hóa - xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân; giữ vững ổn định chính trị,bảo đảm quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường để phát triển bền vững.

2. Các chỉ tiêu chủ yếu kế hoạch năm 2012:

a) Về kinh tế: Phấn đấu tốc độ tăng trưởng GDP của tỉnh đạt 14-15%, GDP bình quân đầu người đạt 20 triệu đồng; giá trị gia tăng các ngành: Nông, lâm nghiệp tăng 4-5%, thuỷ sản tăng 5-6%, công nghiệp-xây dựng tăng 23-24%, dịch vụ tăng 14-15%; Cơ cấu kinh tế: nông lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 39-40%, công nghiệp-xây dựng chiếm 24-25%, dịch vụ chiếm 35-36%; Thu ngân sách trên địa bàn đạt 1.235 tỷ đồng, tăng 6,8% so với năm 2011; Giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 80 triệu USD tăng 11%; Tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 8.650 tỷ đồng tăng 36%, trong đó vốn NSNN khoảng 2.650 tỷ đồng, chiếm 31% trên tổng vốn đầu tư toàn xã hội (vốn NSNN do địa phương quản lý là 2.130 tỷ đồng).

b) Về xã hội: Phấn đấu giảm tỷ lệ sinh bình quân 0,28%0, tốc độ tăng dân số tự nhiên 1,18%; Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi còn 20,5%; Giải quyết việc làm mới cho 15.500 lao động; Giảm tỷ lệ hộ nghèo 2%, còn 11,47%; Đào tạo nghề cho 9.000 lao động, trong đó đào tạo nghề dài hạn 900 lao động.

c) Về môi trường: Phấn đấu Tỷ lệ dân số nông thôn được cấp nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt 86% tăng 4%; Giữ độ che phủ rừng đạt 44%; Tỷ lệ hộ gia đình nông thôn có công trình hợp vệ sinh đạt 67%, tăng 5%; Tỷ lệ thu gom rác thải đô thị đạt 94%.

II. Nhiệm vụ, giải pháp về phát triển các ngành và lĩnh vực chủ yếu:

Nhiệm vụ phát triển kinh tế: Tập trung tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc để thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh và đầu tư, nâng cao chất lượng tăng trưởng và hiệu quả đầu tư, chuyển dịch cơ cấu kinh tế dựa trên lợi thế canh tranh theo hướng công nghiệp và dịch vụ, cụ thể:     

a) Sản xuất nông, lâm nghiệp: Phát triển theo hướng nâng cao chất lượng tăng trưởng, sản xuất sạch để phát triển bền vững; mở rộng qui mô sản xuất hợp lý ở vùng chủ động tưới, từng bước hình thành vùng sản xuất hàng hóa gắn với công nghiệp chế biến. Tập trung triển khai kịp thời các chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp, nông thôn, chuyển giao ứng dụng khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh các sản phẩm có lợi thế của tỉnh, chuyển đổi cơ cấu sản xuất theo hướng nâng cao năng suất và gía trị sản phẩm, tăng hiệu quả sản xuất trên ha đất canh tác chủ động tưới đạt 56-57 triệu đồng/ha. 

Phát triển ngành chăn nuôi từng bước thành ngành sản xuất chính, chiếm tỷ trọng từ 38-39% GDP ngành nông nghiệp, theo hướng đầu tư thâm canh, bán công nghiệp, kết hợp chăn nuôi trang trại và hộ gia đình gắn với quy hoạch đồng cỏ, thực hiện tốt các khâu giống, thức ăn, phòng chống dịch bệnh, duy trì quy mô tổng đàn gia súc có sừng khoảng 260 ngàn con và tập trung nâng cao chất lượng đàn gia súc, nâng tỷ lệ sind hóa đàn bò đạt 36%; triển khai đề án xây dựng lò giết mổ tập trung theo quy hoạch để vừa bảo đảm nâng cao giá cả tiêu thụ, vừa cung cấp thực phẩm sạch, an toàn cho siêu thị của tỉnh và các tỉnh trong khu vực.

Đẩy nhanh tiến độ triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới, phấn đấu hoàn thành quy hoạch xây dựng nông thôn mới cho 47 xã và triển khai đề án nông thôn mới ở 20 xã theo kế hoạch.

Thực hiện tốt chủ trương phát triển kinh tế rừng, tăng cường công tác bảo vệ và phòng chống phá rừng, khoanh nuôi tái sinh và trồng mới 1.000 ha rừng, nâng cao chất lượng độ che phủ rừng, đạt tỷ lệ 44%.

b) Thuỷ sản: Tập trung khai thác thế mạnh về sản xuất giống và phát triển mạnh nuôi trồng thuỷ sản; quy hoạch vùng nuôi tôm tập trung theo hướng bền vững, ứng dụng công nghệ nuôi tiên tiến, đa dạng đối tượng nuôi, mở rộng diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng ở các vùng quy hoạch nuôi tôm công nghiệp An Hải, Sơn Hải nhằm bảo đảm cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến. Nâng cao hiệu quả nghề khai thác xa bờ, nhân rộng mô hình tổ, đội hợp tác trên biển; triển khai chính sách hỗ trợ ngư dân chuyển đổi thuyền nghề, đầu tư thiết bị khai thác hiện đại, nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm, đáp ứng tốt nhất nhu cầu nguyên liệu cho chế biến.

Tăng cường công tác khuyến ngư, chuyển giao khoa học - kỹ thuật trong khai thác và nuôi trồng thủy sản, hoàn thành dự án đầu tư cơ sở hạ tầng vùng nuôi nuôi trồng thủy sản như dự án cải tạo Đầm Nại, triển khai các dự án nuôi tôm công nghiệp có qui mô lớn ở vùng quy hoạch nuôi tôm An Hải, Sơn Hải; đẩy nhanh tiến độ đầu tư hoàn thành dự án chế biến thủy sản xuất khẩu Thông Thuận ở cụm công nghiệp Thành Hải, tăng năng lực sản xuất mới để tạo tăng trưởng.    

c) Công nghiệp - Xây dựng:

Sản xuất công nghiệp: Tập trung phát triển công nghiệp sạch, thân thiện môi trường và tiết kiệm năng lượng; mở rộng qui mô sản xuất các cơ sở chế biến hiện có về chế biến nông, thủy sản, sản xuất vật liệu xây dựng, phát huy năng lực sản xuất mới như chế biến muối cao cấp, chế biến thủy sản, chế biến đá granite; đồng thời đẩy nhanh tiến độ đầu tư các dự án công nghiệp có qui mô lớn nhằm tạo tăng trưởng cho giai đoạn tới như một số dự án điện gió, điện mặt trời, chế biến Ti tan.

Phát triển mạnh ngành nghề tiểu thủ công nghiệp góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn; triển khai kế hoạch hỗ trợ phát triển làng nghề, xây dựng thương hiệu sản phẩm đặc thù của tỉnh giai đoạn 2011-2015; kêu gọi các thành phần kinh tế đầu tư cơ sở hạ tầng cụm công nghiệp Tri Hải (Ninh Hải), Suối Đá (Thuận Bắc).

Tăng cường công tác khuyến công, ưu tiên nguồn lực cho đào tạo lực lượng công nhân kỹ thuật, làm tốt công tác dự báo và thông tin thị trường, hỗ trợ doanh nghiệp xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu sản phẩm, đổi mới thiết bị công nghệ thân thiện môi trường và tiết kiệm năng lượng.

- Xây dựng: Trọng tâm là đẩy mạnh công tác quy hoạch xây dựng đồng bộ và nâng cao chất lượng đáp ứng cho yêu cầu phát triển kinh tế của địa phương và quá trình đô thị hóa. Tập trung đầu tư hạ tầng đô thị, nhất là các công trình cấp thoát nước, công viên cây xanh, giải quyết cơ bản tình trạng ngập úng cục bộ ở đô thị; triển khai đầu tư hệ thống thoát nước thị trấn Phước Dân, Tân Sơn; đẩy nhanh tiến độ hoàn thành các dự án công viên biển, các khu đô thị mới, các tuyến giao thông nội thị như đường đôi vào 2 đầu thành phố, các tuyến đường Hải Thượng Lãng Ông, Nguyễn Văn Cừ, Nguyễn Thị Minh Khai. Tiếp tục triển khai chương trình phát triển nhà ở xã hội, ký túc xá sinh viên.

d) Các ngành dịch vụ: Tập trung phát triển các ngành dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn trong GDP và còn điều kiện tăng trưởng cao như du lịch, thương mại, vận tải, tài chính- tín dụng, phát triển các loại hình dịch vụ mới, có giá trị gia tăng cao. 

- Về Thương mại: Phấn đấu tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ đạt 9.500 tỷ đồng tăng 21,8%; hình thành và phát triển các kênh phân phối lớn, loại hình kinh doanh văn minh hiện đại, mở rộng hệ thống bán lẻ và phát triển thương mại miền núi tạo lưu thông hàng hóa thông suốt, đầu tư một số chợ ở các xã vùng nông thôn miền núi; đẩy mạnh chương trình «Đưa hàng Việt về nông thôn »; tăng cường công tác quản lý thị trường, triển khai đồng bộ các biện pháp bình ổn thị trường góp phần kiềm chế lạm phát; hỗ trợ doanh nghiệp dự trữ hàng hóa, bình ổn giá cả thị trường trước và trong dịp Tết Nguyên đán Nhâm Thìn.  

- Du lịch: Phát huy thế mạnh về du lịch biển, gắn khai thác các lợi thế từ tuyến đường ven biển, kêu gọi đầu tư các dự án có quy mô lớn, có đẳng cấp, khác biệt có tính cạnh tranh cao; xây dựng mạng lưới tour, tuyến du lịch kết hợp du lịch biển với du lịch văn hoá, các làng nghề truyền thống, chú trọng phát triển các loại hình du lịch gắn các hội nghị, hội thảo (Mice) để thu hút du khách; tăng cường công tác đào tạo đội ngũ làm công tác du lịch theo hướng chuyên nghiệp để nâng cao chất lượng phục vụ. Đẩy nhanh tiến độ đầu tư một số khu du lịch trọng điểm như Khu du lịch Bình Tiên, khu du lịch Núi Chúa, khu du lịch Bình Sơn-Ninh Chữ.  

 - Dich vụ vận tải: Tiếp tục duy trì dịch vụ vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt, đầu tư mới các phương tiện hiện đại đi đôi với nâng cao chất lượng dịch vụ, phát triển dịch vụ vận tải biển gắn với cảng hàng hóa Ninh Chữ và các bến du lịch; hoàn thiện mạng lưới giao thông, thu hút các thành phần kinh tế đầu tư bến xe tỉnh, huyện, điểm dừng chân.

- Dịch vụ Bưu chính-Viễn thông: Phát triển hạ tầng viễn thông theo hướng hiện đại, mở rộng mạng lưới đến các khu đô thị, khu công nghiệp, phát triển hạ tầng thông tin phục vụ công tác phòng chống thiên tai, quốc phòng an ninh, đánh bắt thủy sản trên biển.

- Phát triển mạnh các loại hình dịch vụ kinh doanh bất động sản, dịch vụ tài chính, bảo hiểm theo hướng phát triển các sản phẩm dịch vụ mới, mở rộng mạng lưới và nâng cao chất lượng dịch vụ.        

e) Hoạt động xuất khẩu: Tập trung khai thác năng lực chế biến thủy sản xuất khẩu ở Phan Rang và Cà Ná, duy trì xuất khẩu các mặt hàng nông sản chủ lực, tăng cơ cấu xuất khẩu các mặt hàng mới như đá granite, muối cao cấp, nước yến, hàng thủ công mỹ nghệ, sản phẩm may mặc.

g) Thu, chi ngân sách và hoạt động ngân hàng: 

- Thu ngân sách: Phấn đấu tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt 1.235 tỷ đồng, tăng 6,8% so với năm 2011, trong đó thu nội địa 965 tỷ đồng, thu Hải quan 270 tỷ đồng, tập trung khai thác tốt các nguồn thu mới từ xi măng, điện, thuốc lá điếu, dịch vụ xăng dầu, đầu tư XDCB, đất đai và các nguồn thu thực hiện các chính sách thuế mới như Luật thuế bảo vệ môi trường, Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp; đồng thời có biện pháp thực hiện đẩy đủ, kịp thời các chính sách giảm, giãn thuế cho doanh nghiệp nhỏ và vừa; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra chống thất thu thuế.  

- Chi ngân sách: Tổng chi cân đối ngân sách địa phương 2.725 tỷ đồng, trong đó chi thường xuyên và chi khác khoảng 1.679 tỷ đồng, chi đầu tư xây dựng cơ bản khoảng 1.046 tỷ đồng; đồng thời có kế hoạch triển khai thực hiện kịp thời các chủ trương tiết kiệm chi tiêu công để kiềm chế lạm phát; hình thành Qũy đầu tư phát triển địa phương để hỗ trợ đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội đáp ứng yêu cầu phát triển cho giai đoạn tới.  

- Về hoạt động ngân hàng: Tiếp tục triển khai thực hiện tốt chính sách tiền tệ chặt chẽ; đẩy mạnh hoạt động huy động vốn đáp ứng nhu cầu cho nền kinh tế, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận với nguồn vốn tín dụng với lãi suất hợp lý, ưu tiên vốn cho phát triển nông nghiệp, nông thôn, doanh nghiệp nhỏ và vừa, vốn cho hoạt động xuất khẩu.

h) Phát triển kinh tế tập thể: Tiếp tục củng cố, mở rộng và phát triển hợp tác xã theo hướng đa ngành, nhất là các ngành nghề thuộc lĩnh vực mới như: vệ sinh môi trường, dịch vụ tiêu thụ sản phẩm; nâng cao vai trò của khu vực kinh tế tập thể trong phát triển kinh tế nông thôn, xây dựng nông thôn mới, là cầu nối với cơ quan nhà nước để triển khai các chủ trương, chính sách của nhà nước về hỗ trợ các hợp tác xã như hỗ trợ vay vốn tín dụng, quy hoạch quỹ đất dành cho hoạt động của hợp tác xã, hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng, đào tạo nâng cao năng lực Ban quản lý HTX. 

i) Đầu tư phát triển: Tập trung huy động tốt nhất các nguồn lực đầu tư và có biện pháp nâng cao hiệu quả các nguồn vốn đầu tư, nhất là hiệu quả đầu tư công, từng bước điều chỉnh cơ cấu đầu tư theo hướng nâng cao tỷ trọng vốn đầu tư các thành phần kinh tế trong và ngoài nước. Phấn đấu huy động vốn đầu tư toàn xã hội đạt 8.650 tỷ đồng, tăng 36% so với năm 2011, trong đó vốn NSNN đạt 2.650 tỷ đồng, chiếm cơ cấu 31%, huy động vốn các thành phần kinh tế và dân cư khoảng 6.000 tỷ đồng, chiếm cơ cấu 69% (tăng 5%) trên tổng vốn đầu tư toàn xã hội.

- Đối với vốn đầu tư ngân sách nhà nước do tỉnh quản lý:

Tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả mục tiêu kiềm chế lạm phát, nâng cao hiệu quả đầu tư công theo tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Chỉ thị 1792/CT-TTg ngày 15/10/2011. Theo đó, tập trung ưu tiên bố trí vốn thanh toán các công trình hoàn thành, nhằm giải quyết một cách cơ bản nợ XDCB tồn đọng qua các năm; đối với các công trình chuyển tiếp, công trình khởi công mới thì tập trung bố trí vốn hoàn thành nhanh các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội quan trọng, tạo kết nối, khai thác tốt nhất các lợi thế kinh tế của tỉnh. Đồng thời bảo đảm các điều kiện cần thiết cho tổ chức các sự kiện văn hóa thể thao quan trọng trong năm 2012 và những năm tiếp theo, góp phần nâng cao thương hiệu để thu hút các nguồn lực đầu tư phát triển. Tiếp tục hỗ trợ đầu tư nhiều hơn cho thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, các huyện mới tái lập, huyện nghèo 30a, cho các vùng còn khó khăn, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Đối với vốn ODA: Được xác định là nguồn vốn quan trọng trong đầu tư phát triển, nhất là đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; cần có biện pháp chủ động trong tiếp cận các nhà tài trợ để vận động các nguồn vốn ODA mới, đồng thời tập trung triển khai đẩy nhanh tiến độ các dự án chuyển tiếp và một số dự án mới từ các nhà tài trợ JICA, AFD, ADB.

- Đối với nguồn vốn ngân sách do các Bộ ngành trung ương quản lý:

Có kế hoạch phối hợp với các Bộ, ngành tập trung triển khai bảo đảm tiến độ thực hiện các công trình thuộc lĩnh vực thủy lợi, giao thông, thủy sản quan trọng như hệ thống thủy lợi Tân Mỹ, quôc lộ 27 và tuyến tránh quốc lộ 1A, dự án cải tạo Đầm Nại, khu tránh trú bão Ninh Chữ.

- Đối với vốn đầu tư của các thành phần kinh tế và vốn FDI:

Tiếp tục cải thiện mạnh mẽ hơn nữa môi trường đầu tư - kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi nhất có thể để các nhà đầu tư đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án qui mô lớn thuộc lĩnh vực tỉnh có lợi thế về năng lượng, công nghiệp và du lịch như khu du lịch Bình Tiên, khu du lịch Núi Chúa, Spa Nho, khu đô thị, du lịch Bình Sơn-Ninh Chữ, khu du lịch cao cấp Mũi Dinh; các cơ sở sản xuất chế biến trong các khu, cụm công nghiệp; các dự án nuôi trồng thủy sản có qui mô lớn theo hướng công nghiệp. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả chủ trương rà soát các dự án đầu tư trên địa bàn, kịp thời tháo gỡ các khó khăn vướng mắc về giải phóng mặt bằng và thủ tục đầu tư cho các chủ đầu tư.

Để tìm hiểu chi tiết Mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp phát triển kinh tế xã hội năm 2012 của tỉnh Ninh Thuận, độc giả vui lòng tải file đính kèm.